Trang chủ     Tin tức     Video clip     Diễn đàn     Đăng ký
THTT Vòng 24 V-League 2014: Hà Nội T&T - Thanh Hóa
(THTT trên VTV2, BongdaTV, BTV5)








 
Thông Tin Mới Nhất Về Đội Bóng Thanh Hóa
 Thông tin trước vòng đấu V-League 2014



Quay lại   Diễn đàn ThanhHoaFC > Diễn Đàn ThanhHoaFC > Thông tin tổng hợp về Thanh Hóa > Thông tin về tỉnh Thanh Hóa

Shoutbox
Loading...


Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Cũ 25-10-2008, 02:14 AM
Tuanhai's Avatar
Tuanhai Tuanhai vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Super Moderator
 
Tham gia: 06-05-2008
Khu vực: ThanhHoa City
Bài gửi: 1,791

Đường chuyền: 445
Ghi bàn: 1,649 bàn
Trận đấu: 631 trận
Tuanhai is on a distinguished road
Tài khoản: 117,561
Mặc định Những người nổi tiếng gốc Thanh Hoá.

B
C
D
G
H
L
L tiếp


N
N tiếp
P

T


X
Đ
__________________
Trường Sa- Hoàng Sa là của Việt Nam
Đó là sự thật không thể chối cãi

thay đổi nội dung bởi: Tuanhai, 25-10-2008 lúc 02:23 AM.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 7 thành viên cảm ơn bạn Tuanhai vì bài viết hay này:
2008 (30-10-2008), 3011 (29-06-2011), huyson16 (26-10-2008), Nem Chua (08-11-2011), RAU MA XU THANH (26-07-2011), ThietDS (26-07-2011), tienrau (20-06-2010)
  #2  
Cũ 25-10-2008, 11:20 AM
xuthanhque_tui's Avatar
xuthanhque_tui xuthanhque_tui vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Thành viên tiên tiến
 
Tham gia: 15-08-2008
Bài gửi: 49

Đường chuyền: 0
Ghi bàn: 6 bàn
Trận đấu: 1 trận
xuthanhque_tui is on a distinguished road
Mặc định

haha......... họ Le nhà tớ vẫn là nhiều nhất !!!!!
__________________
09888316970,09340205367,01264054011 nhiều sim quá!
" Lòng anh trót yêu em lâu rồi mà chưa dám nói câu yêu người..........^^"
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #3  
Cũ 25-10-2008, 11:21 AM
xuthanhque_tui's Avatar
xuthanhque_tui xuthanhque_tui vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Thành viên tiên tiến
 
Tham gia: 15-08-2008
Bài gửi: 49

Đường chuyền: 0
Ghi bàn: 6 bàn
Trận đấu: 1 trận
xuthanhque_tui is on a distinguished road
Mặc định

có ông bí Thư tp HCM họ " Le Thanh " giống tớ! tiếc alf không đồng hương rồi!
__________________
09888316970,09340205367,01264054011 nhiều sim quá!
" Lòng anh trót yêu em lâu rồi mà chưa dám nói câu yêu người..........^^"
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #4  
Cũ 25-10-2008, 09:28 PM
hiep2610's Avatar
hiep2610 hiep2610 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Thành viên xuất sắc
 
Tham gia: 26-12-2007
Bài gửi: 816

Đường chuyền: 136
Ghi bàn: 120 bàn
Trận đấu: 83 trận
hiep2610 is on a distinguished road
Tài khoản: 19,564
Mặc định

không có Tô Huy Rứa à anh?
__________________
Eragonit
Bóng đá Thanh Hóa - Niềm tin về 1 tương lai tươi sáng !
- Hãy thể hiện mình là 1 người am hiểu bóng đá bằng cách tham gia với chúng tôi http://dreamteam.vn
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #5  
Cũ 25-10-2008, 10:05 PM
spectra's Avatar
spectra spectra vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Thành viên sáng tạo
 
Tham gia: 07-05-2008
Bài gửi: 424

Đường chuyền: 119
Ghi bàn: 561 bàn
Trận đấu: 166 trận
spectra is on a distinguished road
Tài khoản: 25,457
Mặc định

Trích:
Nguyên văn bởi xuthanhque_tui View Post
haha......... họ Le nhà tớ vẫn là nhiều nhất !!!!!
Thế bác chưa biết đó bên Nga còn có Bác Lê nin cũng ho đó bác Hi Hí em té dây!!!!
__________________
Không biết thì HỎI.
Không giỏi thì HỌC.
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #6  
Cũ 25-10-2008, 10:15 PM
Tuanhai's Avatar
Tuanhai Tuanhai vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Super Moderator
 
Tham gia: 06-05-2008
Khu vực: ThanhHoa City
Bài gửi: 1,791

Đường chuyền: 445
Ghi bàn: 1,649 bàn
Trận đấu: 631 trận
Tuanhai is on a distinguished road
Tài khoản: 117,561
Mặc định

Có!
Ngoài ra còn có rất nhiều người Thanh Hoá đương thời cũng rất nổi tiếng

Ông Tô Huy Rứa: Bí thư T.Ư Ðảng, Trưởng ban Tuyên giáo T.Ư
Ông Hồ Huy : Chủ tịch tập đoàn Mai Linh.
Ông Phạm Quang Nghị : Bí thư thành uỷ TP.Hà Nội


Còn nữa không mọi người liệt kê tiếp đi!
__________________
Trường Sa- Hoàng Sa là của Việt Nam
Đó là sự thật không thể chối cãi

thay đổi nội dung bởi: Tuanhai, 26-10-2008 lúc 01:04 AM.
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #7  
Cũ 25-10-2008, 11:02 PM
dangtruong's Avatar
dangtruong dangtruong vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Thành viên ưu tú
 
Tham gia: 17-05-2007
Khu vực: Thanh Hoa,Ha Noi
Bài gửi: 3,274

Đường chuyền: 777
Ghi bàn: 972 bàn
Trận đấu: 649 trận
dangtruong is on a distinguished road
Tài khoản: 148,371
Gửi một tin nhắn qua MSN tới dangtruong Gửi một tin nhắn qua Yahoo tới dangtruong Gửi một tin nhắn qua Skype™ tới dangtruong
Mặc định

Các bác cứ thấy Họ Lê và Họ Nguyễn là vơ hết về Thanh Hóa
__________________
Tự hào là dân Xứ Thanh
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #8  
Cũ 25-10-2008, 11:56 PM
nguoimattim nguoimattim vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Thành viên ưu tú
 
Tham gia: 31-12-2007
Bài gửi: 1,486

Đường chuyền: 1,095
Ghi bàn: 618 bàn
Trận đấu: 385 trận
nguoimattim is on a distinguished road
Tài khoản: 637,717
Mặc định

Sặc, em họ Nguyễn này các bác ơi ! Cũng tự hào, xin bác tuấn hải cho em copy bài này wa bên svthanhhoa.info nhá !
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #9  
Cũ 28-10-2008, 10:46 AM
spectra's Avatar
spectra spectra vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Thành viên sáng tạo
 
Tham gia: 07-05-2008
Bài gửi: 424

Đường chuyền: 119
Ghi bàn: 561 bàn
Trận đấu: 166 trận
spectra is on a distinguished road
Tài khoản: 25,457
Mặc định

Phụ bác Tuanhai:

Thanh Hoá là nơi sản sinh và hội tụ nhiều nhân tài kiệt xuất của dân tộc Việt Nam trong lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước. Cụ thể là:

Lê Thị Hoa (thế kỷ I): quê ở Nga Thiện (Nga Sơn), là một nữ tướng tài ba của Hai Bà Trưng. Bà đã cùng người con tham gia khởi nghĩa và đã lập được nhiều công tích.

Bà Triệu (226 - 248): quê ở vùng núi Quân Yên, xã Ðịnh Công (Yên Ðịnh). Năm 20 tuổi cùng anh trai là Triệu Quốc Ðạt dựng cờ khởi nghĩa chống giặc Ngô. Khi Triệu Quốc Ðạt mất, nghĩa quân tôn Bà làm thủ lĩnh và tiếp tục lãnh đạo nhân dân kháng chiến. Cuộc khởi nghĩa đã lan ra Giao Chỉ, vào tận Cửu Ðức, Nhật Nam.

Ðại Thăng Ðăng (Pháp danh - thế kỷ VIII): người Thanh Hoá, tên Phạn là Mahayana Pridipa, uyên thâm Phật học, đến Trung Quốc, ấn Ðộ nghiên cứu và truyền đạo, chú giải kinh phật. ông mất tại chùa Niết Bàn (ấn Ðộ), thọ 60 tuổi.

Khương Công Phụ (? - 805): quê ở làng Ðịnh Thành (Yên Ðịnh). Ông đỗ tiến sĩ năm 780, dưới thời Ðường Ðức Tông. Ông là vị tiến sĩ đầu tiên của Việt Nam, nổi tiếng thanh liêm, chính trực. Ông đã để lại tác phẩm "Bạch vân chiếu xuân hải", một tác phẩm văn học vào loại sớm nhất của Việt Nam còn lại cho đến ngày nay.

Dương Ðình Nghệ (? - 937): quê ở làng Giàng, xã Thiệu Dương (Thiệu Hoá). Ông là một vị hào trưởng yêu nước, biến trang trại của mình ở làng Giàng thành căn cứ khởi nghĩa chống quân Nam Hán. Năm 931, ông chỉ huy nghĩa quân tấn công thành Ðại La (Hà Nội), giành được thắng lợi, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, chấm dứt nghìn năm Bắc thuộc

Ngô Chân Lưu (933 - 1011): quê ở huyện Tĩnh Gia. Năm 971, Ðinh Tiên Hoàng ban hiệu Khuông Việt Ðại sư. Ông được Lê Hoàn tin cẩn cho tham mưu những việc quan trọng của triều đình, đặc biệt trên lĩnh vực ngoại giao. Ông là tác giả của bài "Tống vương lang quý" nổi tiếng, v.v..

Lê Hoàn (941 - 1005): quê ở xã Xuân Lập (Thọ Xuân). Từ một người lính bình thường, ông đã lập nhiều chiến công, được Ðinh Bộ Lĩnh giao cho làm Thập đạo tướng quân tổng chỉ huy quân đội. Năm 980, trước sự xâm lược của quân Tống, ông đã được quân sĩ và triều đình Hoa Lư tôn làm Hoàng đế. Ông đã lãnh đạo quân dân Ðại Việt hoàn thành công cuộc kháng chiến chống giặc Tống. Ông là một nhà ngoại giao tài giỏi, có công lớn trong việc mở mang kinh tế, phát triển nông nghiệp, giữ yên bờ cõi đất nước.

Lê Phụng Hiểu (?): là người hương Băng Sơn, Châu ái (nay là xã Hoằng Sơn - Hoằng Hoá). Ông có sức khoẻ hơn người, võ nghệ cao cường, nên được Lý Thái Tổ dùng làm vũ vệ tướng quân. Khi Lý Thái Tổ mất, các vương gây biến, ông là người có công dẹp loạn, tôn Lý Thái Tông lên ngôi, giữ yên triều Lý. Ðược phong Ðô thống thượng tướng quân, tước hầu. Ông còn có công lớn trong việc dẹp giặc Chiêm Thành giữ yên bờ cõi phía Nam. Khi chết được phong làm Phúc thần.

Ðinh Củng Viên (? - 1294): quê ở huyện Ðông Sơn, là một nhà ngoại giao tài giỏi dưới thời Trần Thánh Tông (1258 - 1278), khi ông mất được phong chức Thái phó.

Lê Văn Hưu (1230 - 1322): quê ở xã Thiệu Trung, Thiệu Hoá. Năm 1247, thi đỗ Bảng nhãn. Năm 1272, ông làm Hàn lâm viện học sĩ, kiêm Quốc sử viện quán tu. Trong sự nghiệp của mình, ông đã hoàn thành bộ "Ðại Việt sử ký", gồm 30 quyển. Ông không chỉ là nhà viết sử lỗi lạc đầu tiên của Việt Nam, mà còn là nhà quân sự có tài. Ông đã từng giữ chức Thượng thư Bộ Binh kiêm Chưởng sử, tước Nhân uyên hầu.

Hồ Quý Ly (1336 - 1407): quê làng Kim Âu, xã Hà Ðông (Hà Trung), là một vị quan lớn dưới triều Trần, ông đã cách tân đất nước. Năm 1400, ông truất ngôi vua Trần, lập ra nhà Hồ, chuẩn bị cuộc kháng chiến chống giặc Minh, nhưng bị thất bại. Hồ Quý Ly không những là nhà cải cách táo bạo, mà còn làm thơ, soạn sách, với tác phẩm tiêu biểu Minh đạo, cùng một số bài thơ như: Ðáp bắc nhân vấn, An Nam phong tục, Từ trung uý Ðỗ Tử Trừng, v.v..

Lê Lai (1355 - 1418): quê ở xã Kiên Thọ (Ngọc Lặc), tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, giữ chức Ðô tổng quản, tước Quan nội hầu. Năm 1418, nghĩa quân bị nhà Minh vây đánh ở Mường Một, quân ít, lương cạn, để bảo vệ Lê Lợi, ông đã giả làm Lê Lợi giải vây cho nghĩa quân và hy sinh anh dũng. Ðời vua Thánh Tông, ông được truy phong làm Trung Túc Vương.

Lê Tắc (thế kỷ XIV): quê ở Ðông Sơn, theo Trần ích Tắc hàng giặc Nguyễn, làm quan Phụng nghị đại phu ở Hán Dương (Trung Quốc). ở Trung Quốc, ông đã hoàn thành bộ An Nam chí lượng gồm 20 cuốn nói về lịch sử Việt Nam từ thượng cổ đến đời Trần.

Lê Văn Linh (1367 - 1447): người làng Hải Lịch, huyện Lôi Dương (Thọ Xuân), là một trong 18 người tại hội thề Lũng Nhai. Ông luôn ở bên cạnh Lê Lợi bàn mưu, tính kế, soạn thảo văn thư. Năm Triệu Bình thứ 4 (năm 1437), đời vua Lê Thái Tông, ông ra sức can gián việc vua giết Lê Sát nên bị giáng làm bộc xạ, sau đó ít lâu được phục chức. Ông được phong Thái phó.

Nguyễn Chích (1382 - 1448): quê ở Ðông Ninh (Ðông Sơn). Ông xây dựng căn cứ Hoàng Nghiêu chống lại giặc Minh. Khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, ông đem nghĩa quân Hoàng Nghiêu theo Lê Lợi. Là một tướng tài ba, ông đã đề xướng ra kế hoạch đánh vào Nghệ An và giành được thắng lợi lớn, làm thay đổi tình hình nghĩa quân, mở đầu cho các thắng lợi liên tiếp của nghĩa quân Lam Sơn.

Lê Thái Tổ (Lê Lợi, 1385-1433): quê ở Xuân Lam, Thọ Xuân trong một gia đình ba đời làm Hào trưởng. Năm 1407, cuộc kháng chiến chống Minh của nhà Hồ thất bại, biết Lê Lợi là người tài giỏi, giặc Minh mời ông ra làm quan nhưng ông đã từ chối. Năm 1418, ông lãnh đạo nhân dân tiến hành khởi nghĩa. Sau 10 năm kháng chiến, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi. Lê Lợi lên làm vua, lập triều đại hậu Lê. ông không chỉ là nhà tổ chức, nhà quân sự lỗi lạc, mà còn là nhà quản lý đất nước xuất sắc trong lịch sử dân tộc.

Lê Ngân (?): người Ðàm Di, Lam Sơn, tham gia ngay từ ngày đầu cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, ông có rất nhiều công tích trong trận chiến quan trọng: thắng giặc ở ải Khả Lưu, Thuận Hoá và hạ thành Nghệ An, bắt hàng Thái Phúc, được khắc biển công thần thứ 4 trong 93 người. Với chức trọng, quyền cao, năm 1435, làm Phụ tướng, ông bị kẻ gian ghen ghét dèm pha, vua bắt ông tội chết với lý do có kẻ tố cao ông thờ Phật bà Quan Âm. Huệ Phi, con gái ông cũng bị giáng xuống làm tư dung. Ðến năm Hồng Ðức thứ 15 (năm 1484), ông được giải oan, truy tặng Thái phó Trương Quốc Công.

Phạm Vấn(? - 1435): quê ở Nguyên Xá (Ðông Sơn). Tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ năm 1416, có công lớn trong các trận Bồ Mộng, Bồ Ðằng, giải phóng thành Nghệ An. Ông là một trong những trụ cột của triều đình nhà Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, với ngôi Tể tướng. Khi mất được truy tặng Thái phó, năm 1484 truy phong Trấn quận công.

Lê Sát (? - 1437): người thôn Bỉ Ngũ, Lam Sơn, Thọ Xuân, tham gia khởi nghĩa Lam Sơn ngay từ đầu, có nhiều công lao lớn: đánh thắng Trần Trí, Sơn Thọ ở ải Khả Lưu, phá thành Xương Giang, đập tan 20 vạn quân Liễu Thăng ở Chi Lăng. Thái bình thịnh trị, ông làm quan đến chức Tể tướng. Nhưng vì ngay thẳng và quá khuôn phép nên ông bị bọn gian thần xúc xiểng, ghép tội chết. Ðến năm Hồng Ðức thứ 15 (năm 1484), đời vua Lê Thánh Tông, ông mới được minh oan, truy tặng Thái bảo Cảnh quận công.

Lê Khôi (? - 1446): người Lam Sơn, Thuỷ Nguyên (Thọ Xuân ngày nay), là cháu gọi Lê Lợi bằng chú ruột và là một trong những người đầu tiên đứng dưới cờ nghĩa Lam Sơn. Ông đã lập được nhiều công lớn, đánh thắng trận Khả Lưu, hạ thành Xương Giang, mở mang bờ cõi, dẹp nội loạn Bế Khắc Triệu, Nông Ðắc Thái, nhiều lần đánh thắng Ai Lao, giữ vững biên ải quốc gia. Ông có nhiều kế sách bình trị, lấy đức và chính làm đầu, dân được bình yên. Ông là người có công to, đức lớn, tài cao, nên các triều vua Lê (Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông), đều tin dùng, cho tham dự việc triều chính. Khi ông mất được triều đình truy tặng Thái uý Tam Quốc Công.

Nguyễn Mộng Tuân (thế kỷ XV): quê ở Ðông Anh (Ðông Sơn). Năm 1400, đậu Thái học sinh và tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, lập được nhiều công lớn. Dưới thời vua Lê Nhân Tông, ông được cử đi đánh quân Chiêm Thành. Nguyễn Mộng Tuân còn là nhà thơ với các tác phẩm "Cúc Pha thi tập", "Chí Linh sơn phú", v.v..

Trịnh Khả (1399 - 1451): người làng Kim Bôi (Vĩnh Lộc). Ông là một trong 18 người có mặt trong hội thề Lũng Nhai năm Bính Thân (năm 1416). Khi Lê Lợi vây thành Nghệ An, ông cùng Lê Văn Linh được cử làm tướng văn, tướng võ. Cùng với Lê Triện, Ðinh Lễ đánh tan 5 vạn quân Vương Thông ở Ninh Kiều, chặn đứng 2 vạn quân của Mộc Thanh ở ải Lê Hoa. Ông được phong tới chức Nhập nội Thái uý, Bình chương quân quốc trọng sự, Thượng trụ quốc, được ban kim ngư trang kim phù, tước Quốc thượng hầu. Tháng 9-1451, đời vua Lê Nhân Tông, ông cùng con là Trịnh Bá Quát bị hại, do có kẻ gièm pha với Thái hậu là cha con ông làm phản. Năm thứ 11 (năm 1553), Lê Nhân Tông đã khôi phục lại quan tước cho ông. Ðời vua Lê Thánh Tông truy phong Hiển khánh vương.

Lê Liệt (? - 1462): người Thuỷ Luân, Lam Sơn (nay là xã Xuân Lam - Thọ Xuân), gọi Lê Lợi là cậu. ông cùng người anh là Lê Lễ có mặt trong hội thề Lũng Nhai. Lúc thái bình đầu triều Lê, ông được khắc biển phong công thần thứ 2, được thăng nhập nội tư mã tham dự việc triều chính. Khi Lạng Sơn vương (Lê Nghi Dân) giết vua, ông cùng Nguyễn Xí, Lê Lăng dẹp loạn đón Lê Thánh Tông lên ngôi. Năm Hồng Ðức thứ 2 (năm 1462), ông mất, triều đình truy tặng là Mục vương.

Lê Niệm (? - 1485): quê ở thôn Dật Tú, là cháu Lê Lai di cư tới xã Văn Lộc, Hậu Lộc. ông là một vị quan thanh liêm, có công lớn trong cuộc kháng chống Chiêm Thành, được Lê Thánh Tông tin cẩn giao cho việc trông coi triều chính, khi vua về bái yết Sơn Lăng. Ông còn tham gia viết sách Anh Hoa hiếu tự. Làm quan tới chức Thái phó Tĩnh quốc công thần, khi mất được truy tặng Thái uý.

Lê Thánh Tông (1442 - 1497): Lê Thánh Tông sinh ngày 20-7 năm Nhâm Tuất (năm 1442), huý là Tư Thành, con thứ tư của vua Lê Thái Tông và Hoàng hậu Ngô Thị Ngọc Dao, là cháu nội của vua Lê Thái Tổ, mất ngày 30-12 năm Ðinh Tỵ (năm 1497). Năm 1460, ông lên ngôi vua và trị vì được 38 năm với 2 niên hiệu Quang Thuận (1460 - 1469) và Hồng Ðức (1470 - 1497). Ông là nhà cải cách lớn trong lịch sử Việt Nam. Bộ luật Hồng Ðức là bộ luật thành văn đầu tiên của Việt Nam, được soạn thảo dưới thời của ông. Ông là người sáng lập ra hội Tao Ðàn, để lại nhiều tập thơ, 1 tập truyện ký và rất nhiều bài viết đặc sắc trong các tập "Hồng Ðức thi tập", "Thánh Tông di cảo",v.v..

Hồ Nguyên Trừng (?): con trai Hồ Quý Ly, là nhà sáng chế kỹ thuật quân sự tài giỏi. Cuộc kháng chiến chống Minh thất bại, cha con ông bị bắt đưa về Trung Quốc. Tại đây, ông đã chế tạo được nhiều loại đại bác. Làm quan đến công bộ Thượng thư. Ông còn viết sách, làm thơ với tác phẩm tiêu biểu như "Nam ông mộng lục", tỏ rõ lòng nhớ quê hương đất nước.

Lương Ðình Bằng (1472 - ?): người làng Hội Trào (Hoằng Hoá). Lúc bé nổi tiếng là một thần đồng, đến năm 27 - 28 tuổi ông đỗ hội nguyên, thi đình đỗ nhất giáp sĩ, tên thứ 2 (tức Bảng nhãn). Ông làm quan đến chức Thượng thư Bộ Lại, tước hiệu Ðôn Trung Bá. Ông còn là một nhà giáo mẫu mực, là thầy dạy của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nhiều nhân tài, học thức của xứ Thanh và cả nước đã từng là học trò của ông.

Nguyễn Văn Nghị (?): người làng Ngọc Bôi, huyện Ðông Sơn, đỗ nhất giáp chế khoa (năm 1554). Ông là người học giỏi văn học, giàu kiến thức, làm hầu giảng ở toà Kính Duyên, giảng dạy cho vua Anh Tông, Thế Tông. Ông làm quan đến chức Tả Thị lang Bộ Lại, khi chết được truy phong Thượng thư Bộ Công, gia Thái Bảo, Phúc thần. Ông là bậc danh nho đức nghiệp.

Lê Trạc Tú(?): người làng Thượng Cốc, huyện Lôi Dương (Thọ Xuân ngày nay). Ông nội là Tán Thiện, chú là Tán Tương cùng đỗ tiến sĩ khoa Kỷ Mùi (năm 1499), ông đỗ Ðệ nhất giáp chế khoa, khoa Ðinh Sửu (năm 1577). Khi làm Thượng thư Bộ Lại và Tể tướng, ông đã cất nhắc người hiền tài. Ông sống cuộc sống ngay thẳng, thanh bạch.
__________________
Không biết thì HỎI.
Không giỏi thì HỌC.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 3 thành viên cảm ơn bạn spectra vì bài viết hay này:
3011 (29-06-2011), RAU MA XU THANH (26-07-2011), ThietDS (26-07-2011)
  #10  
Cũ 28-10-2008, 10:46 AM
spectra's Avatar
spectra spectra vẫn chưa có mặt trong diễn đàn
Thành viên sáng tạo
 
Tham gia: 07-05-2008
Bài gửi: 424

Đường chuyền: 119
Ghi bàn: 561 bàn
Trận đấu: 166 trận
spectra is on a distinguished road
Tài khoản: 25,457
Mặc định

Lương Hữu Kháng (thế kỷ XVI): quê ở làng Hội Triều, nay là xã Hoằng Phong (Hoằng Hoá). Ông đậu cử nhân năm 12 tuổi, đậu thứ 2 thi hội, không thi đình dưới triều Mạc Ðăng Doanh. Ông có công trong việc khôi phục nhà Lê, được thăng tới chức Thượng thư Bộ Binh, tước Ðạt quân hầu. Ông đã để lại các tác phẩm nổi tiếng như: "Quan sử", "Tân quan văn kế phú".

Trịnh Duy Thuân (? - 1542): người xã Thuỷ Chú, huyện Lôi Dương (Thọ Xuân ngày nay), là cháu công thần An quốc công Trịnh Khắc Phục, được phong Lý quốc công, trấn giữ Thanh Hoá (năm 1522). Khi Mạc Ðăng Dung cướp ngôi nhà Lê (năm 1527), ông là người bảo vệ che chở cho hoàng tử Lê Duy Ninh và cùng Chiêu Huân công Nguyễn Kim sắm sửa binh lương, chiêu tập hào kiệt, mở đầu cuộc trung hưng nhà Lê. Ông mất năm 1542.

Nguyễn Kim (? - 1545): là người Gia Miêu, huyện Tống Sơn (Hà Trung ngày nay). Ông là người khởi xướng và lãng đạo công cuộc trung hưng nhà Lê. Sự nghiệp chưa thành, ông bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc, mất năm 1545. Trước khi mất, ông đã sáng suốt nhìn nhận và giao quyền lực cho con rể là Trịnh Kiểm. Ông là người mở nghiệp cho dòng chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn.

Trịnh Kiểm (1503 - 1570): quê làng Sóc Sơn, Vĩnh Hùng, Vĩnh Lộc. Ông là người có công lớn trong việc trùng hưng nhà Lê. Ông là người mưu lược, cùng các tướng sĩ đánh lui 5 đợt tấn công của nhà Mạc, bảo vệ vững chắc Thanh Hoá. Ông cũng hết sức chăm lo triều đình, lập chế độ thuế khoá, khuyến khích nghề nông, mở rộng thi cử chọn nhân tài,v.v.. Ông là ông tổ của dòng chúa Trịnh sau này.

Phạm Ðốc (1514 - 1559): người làng Thổ Sơn (Vĩnh Lộc). Ông là người có công lớn trong cuộc trung hưng nhà Lê, ông còn là người giỏi văn chương, thu phục nhân tâm, nhất là các sĩ phu. Ðược thăng tới chức Thái phó Ðức quận công. Khi ông mất được truy tặng Thái úy Ðức quốc công.

Nguyễn Mậu Tuyên (1518 - 1599): người làng Thịnh Mỹ, huyện Lôi Dương (Thọ Xuân ngày nay), dòng dõi công thần (cháu Thúc quốc công Nguyễn Nhữ Lãm). Ông học sâu, hiểu rộng, mẫu mực, khuôn phép, làm quan đến chức Tể tướng. Khi mất, ông được truy tặng Thiếu sư.

Hoàng Ðình ái (1527 - 1607): quê ở Viện Thượng (Vĩnh Lộc). ông là người có công lớn trong cuộc trùng hưng nhà Lê, bắt sống đại tướng Nguyễn Quyện, lấy lại Ðông Kinh (năm 1591), đánh đuổi Mạc Ngọc Liễn, Mạc Kính Cung ở châu An Bác, bắt sống Mạc Kính Cung ở Lục Ngạn (năm 1598), bình định Lạng Sơn, Hải Dương (năm 1602). Ông làm quan đến chức Tể tướng, mất năm 1607, thọ 81 tuổi.

Bùi Khắc Nhất (1533 - 1609): quê làng Bột Thái, huyện Hoằng Hoá (nay là xã Hoằng Lộc, Hoằng Hoá). Ðời vua Lê Anh Tông, ông đậu Ðệ nhất giáp Chế khoa đệ nhị danh, tương đương học vị Bảng nhãn của khoa thi tiến sĩ. Ông đã từng giữ chức Tả, Hữu Thị lang Bộ Công, Tả Thị lang Bộ Hình, Thượng thư Bộ Hộ, Thượng thư Bộ Binh. Ông là người trực tiếp quản lý việc tu sửa thành Thăng Long năm 1593 và có nhiều đóng góp trong phát triển kinh tế, tu bổ đê điều, thuỷ lợi, giữ cho pháp luật nghiêm minh, thái bình thịnh trị. Sau khi mất, ông được phong Phúc thần, với tôn hiệu cao nhất là Thượng đẳng thần.

Trịnh Tùng (1546 - 1623): người kế tục sự nghiệp của cha (Trịnh Kiểm) và hoàn thành sự nghiệp trùng hưng nhà Lê. Ông là chúa thứ 2 của dòng chúa Trịnh, ở ngôi chúa 54 năm và thiết lập nên thể chế nhà nước mới, tức là: vua - chúa ở Việt Nam.

Lê Bật Tứ (1562 - 1627): quê ở xã Tân Ninh (Triệu Sơn). Năm 1598, ông đỗ tiến sĩ. Năm 1619, ông được phong chức Thượng thư Bộ Binh, rồi Tham tụng. Ngoài ra, ông còn là nhà ngoại giao tài giỏi, một vị quan chính trực, nhiều lần khuyên chúa Trịnh trừng trị bọn gian thần.

Lương Ðình Chất (1566 - 1627): người làng Quỳ Chử (Hoằng Hoá), là con của công thần Lâm Quận công Lưu Ðình Thưởng. Năm 42 tuổi, ông thi đỗ Nhị giáp tiến sĩ. Mùa hè Quý Mùi (năm 1623), Trịnh Xuân gây biến, ông đã giúp Thanh Vương (Trịnh Tráng) dẹp loạn. Vì là người có công và tài giỏi, nên ông đã vào phủ làm chức Tham tụng, tiến đến là chức Thượng thư Bộ hộ, Thiếu bảo, Phục quận công. Ông mất năm Ðinh Mão (năm 1627), thọ 62 tuổi, được truy tặng Thiếu sư.

Ðào Duy Từ (1572 - 1634): quê làng Hoa Trai, xã Nguyên Bình (Tĩnh Gia). Ông là một trong những vị khai quốc công thần, một nhà quân sự, nhà ngoại giao, nhà văn hoá giỏi. Ông đã có công giúp nhà Nguyễn phát triển kinh tế, giữ yên lãnh thổ, được phong tước Lộc Khê hầu và thờ trong Thái Miếu. Ông là tác giả của tác phẩm "Hổ trướng khu cơ", "Ngoạ long cương văn", "Tư duy vãn", v.v..

Nguyễn Hữu Dật (1604 - 1681): quê ở Gia Miêu, xã Hoàng Long (Hà Trung), là một trong những trụ cột của chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên). Ông được giao làm Bố chánh Quảng Bình. Ông có tài về chiến lược quân sự và văn thơ. Khi ông mất được truy tặng Chiêm quận công.

Lê Ðình Kiên (1620 - 1704): quê làng Thiết Ðịnh, xã Ðịnh Trường (Yên Ðịnh). Ông là người có công trong việc xây dựng phố Hiến (Hưng Yên) thành một trung tâm buôn bán lớn của đất nước. Ông là nhà ngoại giao, ngoại thương tài năng, góp phần quan trọng trong việc mở mang đất nước.

Nguyễn Quán Nho (1630 - 1709): người làng Vãn Hà, huyện Thuỷ Nguyên (xã Thiệu Hưng, Thiệu Hoá ngày nay) đỗ đồng tiến sĩ. Ông làm quan đến chức Tể tướng, luôn giữ đại thể làm trọng, lượng thứ việc nhỏ, xử sự nhân hậu, nên được lưu truyền tên gọi "Tể tướng Vạn hà thiên hạ âu ca", tước Quận công.

Trịnh Thị Ngọc Trúc (?): con gái Trịnh Tráng, là chính cung Hoàng hậu của vua Lê Thần Tông (1619 - 1643). Ðến nay, nhiều người cho rằng: Bà là tác giả bộ từ điển Hán - Nôm cổ nhất Việt Nam "Chỉ nam Ngọc âm giải nghĩa".

Lê Hy (1646 - 1702): quê ở xã Ðông Khê (Ðông Sơn). Năm 1664, đỗ tiến sĩ, tài năng của ông được các chúa Trịnh tin dùng, cử đi sứ Trung Quốc và được phong chức Thượng thư Bộ binh, rồi Tham tụng (Tể tướng), tước Lai sơn bá. Ông là nhà viết sử nổi tiếng, trong đó tác phẩm "Bản kỷ lục biên" do ông chủ biên.

Nguyễn Hữu Hào (1647 - 1713): quê ở làng Gia Miêu, xã Hà Long (Hà Trung). Ông có công lớn với chúa Nguyễn trong các cuộc giao tranh với chúa Trịnh, được phong chức Cai cơ, Chưởng cơ rồi chức trấn thủ Quảng Bình, v.v.. Ngoài ra, ông còn là người sáng tác truyện thơ Nôm "Song tinh bất dạ" lưu truyền rộng rãi trong nhân dân. Khi mất, ông được truy tặng Ðôn hậu công thần trấn thủ.

Nguyễn Hiệu (1664 - 1753): là người làng Lan Khê, Nông Trưởng (Triệu Sơn). Năm 27 tuổi đỗ hội nguyên, thi đình đỗ đồng tiến sĩ. Ông là một người tài giỏi, trung hậu và ngay thẳng, nên được trọng dụng làm quan đến chức Tể tướng. Khi mất, năm 1735, được triều đình truy tặng Thái bảo, Ðại tư đồ, gia phong làm Phúc thần.

Hà Tông Huân (1697 - 1790): người làng Kim Thành, huyện Yên Ðịnh. Năm 28 tuổi, ông đỗ Bảng nhãn. Ông là người thông minh, tài trí được trọng dụng, ra vào phủ Chúa bàn việc quân cơ yếu, làm đồng Tham tụng rồi nhập chính Tham tụng, kiêm việc ở Quốc Tử Giám. Khi về hưu vẫn được mời ra làm bậc ngũ lão, được gia thăng Thiếu bảo, tước Huy quận công, khi mất được thăng hàm Thái phó.

Trịnh Tuê (còn gọi là Trịnh Huê, 1704 - ?): quê ở Biện Thượng, nay thuộc xã Vĩnh Hùng(Vĩnh Lộc), (trú quán tại xã Bất Quần, nay là xã Quảng Thịnh, Quảng Xương). Ông đỗ Trạng nguyên, khoa Bính Thìn (năm 1736), đời Lê ý Tông. Ðây là người được phong Trạng nguyên cuối cùng của nước ta. Ông giữ chức Thượng thư Bộ hình, Tế tửu (hiệu trưởng) Quốc Tử Giám, Tham tụng. Khi mất được thăng chức Hữu Thị lang.

Nguyễn Hoàn (1713 - 1791): là con trai thứ hai của Hưng quốc công - Nguyễn Kim, vào trấn thủ Thuận Quảng, mở đầu cho sự nghiệp của các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn.

Ngô Cao Long (thế kỷ XIX): tự là Lệnh Phù, hiệu là Viên Trai, quê ở xã Hoằng Long (Hoằng Hoá). Năm 1807, ông làm quan Tri phủ, sau đó vào Huế làm Quốc sử quán. Ðồng thời, ông còn là một nhà nghiên cứu uyên bác, viết nhiều sách về lịch sử như Lịch triều tạp kỷ, Ngô Man phong thổ ký, Bắc Kỳ tạp biên. v.v..

Nhữ Bá Sĩ (1787 - 1867): người làng Cát Xuyên (Hoằng Cát, Hoằng Hoá), đỗ cử nhân năm 1821, xin cáo quan về quê dạy học, sau đó ông mưu việc chống Pháp, việc chưa thành thì mất. Ông là người có học vấn uyên thâm, viết sách về giáo dục, văn hoá, lịch sử,... tiêu biểu nhất là các tác phẩm "Việt sử tam bách vịnh", "Thanh Hoá tỉnh chí".

Nguyễn Thu (1799 - 1855): còn có tên là Nguyễn Bão, quê xã Nông Trường (Triệu Sơn), đậu cử nhân năm 1821, làm án sát và tham dự biên soạn Thực lục tiền biên, sau thăng Thị lang Bộ hộ. Ông để lại 17 tác phẩm lịch sử, triết học, văn thơ như: "Lê Quý ký sự", "Việt thi tục biên", v.v..

Phạm Bành (1825 - 1887): quê ở làng Trương Xá, xã Hoà Lộc (Hậu Lộc), đỗ cử nhân năm 1864, cùng Ðinh Công Tráng xây dựng căn cứ và là một trong những lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa Ba Ðình.

Nguyễn Ðôn Tiết (1836 - ?): quê ở xã Hoằng Ðức (Hoằng Hoá), đậu Phó bảng năm 1879. Năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần Vương, ông mộ quân, phối hợp với nghĩa quân Hoàng Bật Ðạt tấn công đồn pháp ở Bút Sơn. Ông bị bắt năm 1886, bị tù đầy tại Lao Bảo và hy sinh tại đây.

Tống Duy Tân (1837 - 1892): quê ở Vĩnh Tân, Vĩnh Lộc. Ông đỗ tiến sĩ năm 1875, làm Tri huyện Vĩnh Tường, án sát Sơn Tây, Chánh sứ quan phòng Quảng Hoá. Năm 1886, Ông cùng con là Tống Nhữ Mai lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh. Ông cùng Phạm Bành, Hoàng Bật Ðạt, Trần Xuân Soạn,v.v.. lãnh đạo nghĩa quân Ba Ðình. Ông bị giặc Pháp bắt tại hang Niên Ký (Bá Thước) và hy sinh tại thị xã Thanh Hoá năm 1892.

Trần Xuân Soạn (1849 - 1923): quê ở làng Thọ Hạc, thành phố Thanh Hoá. Ông được phái đi kháng chiến trong triều đình Huế giao chức Ðề đốc quân vụ (năm 1885), cùng Tôn Thất Thuyết tổ chức chống Pháp. Khi về Thanh Hoá, ông cùng các lãnh tụ nghĩa quân lập căn cứ Ba Ðình, Mã Cao và được giao nhiệm vụ đóng quân tại Thạch Thành hỗ trợ cho nghĩa quân Ba Ðình. Ông mất tại Long Châu (Trung Quốc).

Cầm Bá Thước (1853 - 1895): quê ở Trịnh Vạn, Thường Xuân. Năm 1895, phong trào Cần Vương của nhân dân Thanh Hoá phát triển mạnh mẽ, ông lãnh đạo nhân dân lập căn cứ Trịnh Vạn tổ chức chống giặc Pháp. Ông được Tôn Thất Thuyết phong cho chức Tán tướng quân vụ và tiến hành các trận đánh đồn Pù Lẹ, đồn Cửa Ðặt, v.v. gây cho thực dân Pháp nhiều thiệt hại. Bị sa vào tay giặc, ông không khai nửa lời và hy sinh anh dũng.

Cao Ðiển (1853 - 1896): quê ở làng Trinh Sơn, xã Hoằng Giang (Hoằng Hoá), được Tôn Thất Thuyết cử chỉ huy trận tấn công vào sứ quán và đồn binh Pháp ở Huế. Sau đó, ông về Thanh Hoá cùng Tống Duy Tân xây dựng căn cứ Hùng Lĩnh (Vĩnh Lộc) chống Pháp. Trên đường ra Bắc liên lạc với nghĩa quân Yên Thế của Hoàng Hoa Thám, ông bị Pháp bắt tại thị xã Bắc Giang và xử chém tại thị xã Thanh Hoá.

Lê Quát: tự là Bá Ðạt, hiệu Mai Phong, người làng Phủ Lý (nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hoá). Ông làm quan đến chức Thượng thư hữu bật, Nhập nội hành khiển. Ông là người tài giỏi về văn học, chữ nghĩa, cho đến ngày nay vẫn còn được lưu truyền câu: văn chương Lê - Phạm (tức là Lê Quát và Phạm Sư Mạnh).
__________________
Không biết thì HỎI.
Không giỏi thì HỌC.
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 4 thành viên cảm ơn bạn spectra vì bài viết hay này:
2008 (30-10-2008), 3011 (29-06-2011), nguoimattim (28-10-2008), ThietDS (26-07-2011)
Trả lời

Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến


Múi giờ GMT +7. Hiện tại là 02:37 PM.


Powered by vBulletin® - Copyright © Jelsoft Enterprises Ltd.
© 2007-2013 Hội cổ động viên bóng đá xứ Thanh. Email: webmaster@thanhhoafc.net
BQT không chịu bất cứ trách nhiệm nào từ nội dung bài viết của thành viên.
Thực phẩm dinh dưỡng MoonBiBi